Hiển thị các bài đăng có nhãn Đá quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đá quý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2020

Một số loại đá quý hiếm bậc nhất trên thế giới

Những loại đá quý hiếm bậc nhất trên thế giới đều là những loại đá có số lượng tồn tại rất rất ít. So với đá quý hay kim cương thông thường chúng còn hiếm hơn rất nhiều.

1) Đá Musgravite: vô cùng hiếm chỉ có 8 mẫu vật tồn tại.

Loại đá này được tìm thấy đầu tiên vào năm 1967 ở Nam Úc. Tuy nhiên phải đến năm 1993 người ta mới có được những mẫu vật đủ lớn và tinh khiết để cắt thành hình.

Cho đến năm 2005, chỉ có 8 mẫu vật Musgravite này tồn tại trên thế giới. Musgravite được xác nhận là khoáng silicat có thành phần chính là beryllium (Be), magie (Mg) và nhôm (Al).

Do độ quý hiếm của mình mà giá của Musgravite khoảng 6.000 USD/carat (khoảng 126 triệu VND).


2) Đá Taaffeite
được đặt theo tên của nhà nghiên cứu đá quý người Úc Richard Taaffe. Ông là người phát hiện ra mẫu đá này vào năm 1945. Đá Taaffeite có rất nhiều màu sắc khác nhau, từ  trong suốt cho đến màu hoa oải hương, màu hoa cà hoặc màu tím hơi ngả xanh. Loại đá này được tìm thấy ở nhiều nơi khác nhau nhưng chủ yếu là Sri Lanka và Tanzania. Tính đến này, Taffeite là một trong những loại đá quý hiếm và có giá trị cao với $1500 - $2500/carat.




3) Đá Panite
Vào năm 1950, nhà khoáng vật Arthur C.D. Paine đã bắt gặp một hòn đá nâu lạ thường tại Myanmar và ông không ngờ rằng đó là một trong những loại đá quý hiếm nhất hành tinh. Trong nhiều thập kỷ, chỉ có hai mẫu đá này  được biết là tồn tại. Màu sắc của loại đá này là sự hòa trộn giữa màu cam, đỏ và nâu, có giá lên đến $50 000 - $60 000/carat.





4) Đá Grandidierite
Khoáng chất quý hiếm màu lục phớt lam này được tìm thấy chủ yếu ở bán đảo Madagascar và được đặt theo tên của nhà thám hiểm, sử học gia tự nhiên người Pháp - Alfred Grandidier. Đây là một borosilicate aluminium Mg – Fe cực nhỏ hiếm hoi.

Giống như Alexandrite, đá Grandidierite có thể đổi màu. Nó có thể chuyển từ màu nước biển sang xanh lá cây hoặc là trắng. Với chỉ khoảng vài trăm viên đá còn tồn tại, giá của Grandidierite lên đến trên 20.000 USD/carat (khoảng 420 triệu VND).

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

Đá mắt mèo Chrysoberyl

Đá mắt mèo hay còn gọi là Chrysoberyl, là một loại đá quý tương đối cứng, chắc và bền với độc cứng chắc tuyệt vời là 8.5 trên thang Mohs. Đặc trưng của đá mắt mèo là có quầng sáng chính giữa, chúng ta tưởng tượng như mắt con mèo trong đêm tối, được ánh đèn pin hoặc đèn xe chiếu vào, nó cũng có quầng sáng như vậy.

Đá mắt mèo Chrysoberyl là loại khoáng vật thuộc hệ trực thoi với công thức hóa học là BeAL2O4. Người Hy Lạp cổ đại gọi loại đá này là “cymophane”, nghĩa là ánh sáng di chuyển. Đặc biệt đá mắt mèo có thể thay đổi màu sắc và lấp lánh như mắt con mèo dưới ánh điện và ánh nắng.



Đá mắt mèo chrysolberyl cùng một họ hàng với alexandrite về việc thay đổi màu sắc. Loại đá quý thuộc nhóm chrysoberyl này là một điển hình nổi tiếng nhất về hiệu ứng mắt mèo. Hiệu ứng mắt mèo là do có rất nhiều các đường sáng song song tạo thành cột sáng hội tụ trong viên đá. Tất cả ánh sáng phản chiếu được quy tụ bởi bề mặt cong của viên ngọc đã mài tròn, làm xuất hiện các dải sáng nhiều màu sắc. Nếu như bề cong quá cao, dải sáng rõ ràng vẫn tồn tại, nhưng nó không được bộc lộ và phản xạ ngược lại. Một bề cong thoải sẽ làm cho dải sáng gợn sóng huyền ảo. Còn nếu viên ngọc bị cắt một cách cẩu thả thì ánh sáng sẽ bị đứt đoạn và xuyên chéo qua viên đá chứ không thể phản xạ ngược lại được. Nhờ cấu tạo và tính chất riêng biệt mà đá mắt mèo có tính chất như một con mắt sống động.

Màu của đá mắt mèo Chrysoberyl là từ nâu “mật ong” cho đến lục “táo”, trong đó màu vàng kim có giá cao nhất, màu vàng chrysoberyl là do tạp chất Fe tạo ra. Đá mắt mèo được cho là đẹp thường có hiện tượng sữa và mật ong. Khi chiếu sáng theo chiều thẳng góc với mắt, hướng vào hông viên đá thì chúng ta sẽ thấy một bên mắt sẽ có màu trắng sữa, bên kia vẫn giữa màu vàng kim đến nâu. Đá mắt mèo có thể chuyển đổi màu sắc giữa ánh sáng trắng của đèn huỳnh quang và ánh sáng đỏ của đèn dây tóc.


Đá nắt mèo mầu đen lục
- Màu sắc sẽ xoay theo hướng viên đá xoay. Khi bạn chiếu hai nguồn sáng lên đá mắt mèo và rồi xoay viên đá thì viên đá này sẽ nháy và tách ra thành hai dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Người ta gọi hiệu ứng này là “Mở và khép”.

- Yếu tố giá trị quan trọng nhất của đá mắt mèo chính là độ sắc nét của mắt. Chất lượng của mắt mèo chrysolberyl dựa vào sự xuất hiện của hiệu ứng óng ánh, điều kiện tốt nhất của màu sắc và độ trong suốt  và hình dáng tổng thể. Đá chất lượng tốt thể hiện ở những tia sáng đơn mềm hiện lên ở chính giữa viên ngọc khi chiếu thẳng trực tiếp từ trên xuống, nhưng dưới ánh sáng gián tiếp, hiệu ứng lấp lánh sẽ bị giảm đi. Hiệu ứng lấp lánh lan ra toàn bộ theo phương thẳng đứng của viên ngọc là viên được ao ước nhất.


Đá mắt mèo thường được chế tác làm nhẫn. Nền của 1 viên ngọc mắt mèo thường  có đáy thô, gần như được khắc thủy tinh, để gắn với hiệu ứng lấp lánh. Cũng vẫn có những dấu vết của bề mặt tinh thể thô ở đáy, nhưng đó không phải là vấn đề lớn. Trong những nguyên liệu chất lượng đá quý, đáy của những viên đá không được quá sâu,  sẽ gây trở ngại cho việc gắn đá vào trang sức.

Lựa chọn lý tưởng cho 1 viên ngọc mắt mèo chrysolberyl là 1 viên mà có hiệu ứng lấp lánh và sự cân bằng trong thay đổi tỷ lệ giữa màu mật ong và màu sữa, và có hình dáng tổng thể đẹp.
Đá mắt mèo chủ yếu hiện nay là Sri Lankan, Tanzania, Brazil, Madagasca và Ấn Độ, số lượng loại đá rất hiếm và đắt. Ở Việt Nam không có đá mắt mèo khai thác trong tự nhiên, đá mắt mèo trên thị trường hiện nay đa phần là đá mắt mèo giả, có thể là thủy tinh hoặc một loại đá không hoàn toàn tự nhiên mà đã qua được qua xử lý. Loại đá mắt mèo giả này có mầu không bền, giá rẻ, dễ bay mầu theo thời gian. Giá đá mắt mèo kích cỡ 3 carat  chất lượng đá quý sẽ có giá xấp xỉ $5,000 cho 1 viên đơn (theo đơn giá 2001).

Tại Phương Đông, người ta tin rằng, nếu ai đó đặt viên đá mắt mèo lên trán tại vùng chính giữa đôi mắt thì nó sẽ giúp họ có thể nhìn được thông suốt mọi vấn đề. Nhiều nền văn hóa xưa cho rằng đá mắt mèo có khả năng rất tốt trong việc trị liệu các bệnh liên quan về mắt. Còn như ở Sri Lanka, người ta cho rằng ánh mắt đá mắt mèo rằng nó có khả năng bảo vệ con người khỏi ma quỷ.

Đá mắt mèo có tính chất kị ma được xem như là bùa hộ mệnh, có khả năng tăng cường sức mạnh về thể chất, khuyến khích sáng tạo, giúp tinh thần minh mẫn tập trung. Ngoài ra đá mắt mèo còn có thể mang lại sự may mắn, tài lộc cho chủ nhân.

Đá mắt mèo Chrysoberyl




Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

Đá Ruby - Hồng ngọc, ông hoàng của các loại đá quý.

Tên Ruby bắt nguồn từ tiếng Latinh “rubeus” có nghĩa là màu đỏ sẫm.

Truyền thuyết kể rằng, đá Ruby chính là những giọt máu rỉ ra từ trái tim người mẹ vĩ đại của muôn loài - Thần Đất. Chính vì thế, màu đỏ rực rỡ của đá Ruby chính là tượng trưng cho mặt trời, tự do và quyền lực. Đá Ruby ở Việt Nam thường được gọi là đá Hồng ngọc hay Ngọc đỏ.



Đá Ruby là một loại trong 4 loại đá quý có giá trị cao được công nhận trên toàn thế giới, Kim cương, Sapphire, Ruby, Emerald. Ruby và Sapphire có cùng một nguồn gốc cấu tạo trong nhóm Corindon, dựa vào màu sắc mà được chia ra làm 2 loại, màu đỏ gọi là Ruby, và các màu khác còn lại gọi là Sapphire. Độ cứng của Ruby là 9 trên thang Mohs.


Màu sắc của đá hồng ngọc Ruby

Màu sắc đậm hay nhạt của đá hồng ngọc Ruby tùy thuộc vào lượng thành phần crom có trong viên đá, thành phần crom càng lớn, màu đỏ càng đậm và ngược lại. Crom cũng tạo nên hiệu ứng huỳnh quang (fluorescence), là yếu tố tạo thành “ánh lửa” của ruby. Loại đá ruby được ưa chuộng nhất trên thị trường ngày nay đến từ Myanmar, Himalaya và khu vực Lục Yên, Yên Bái (miền Bắc Việt Nam), ruby ở đây thường được tìm thấy lẫn trong các khối cẩm thạch.

Đặc điểm của cẩm thạch là có hàm lượng sắt thấp, chính vì vậy mà ruby ở đây cũng không lẫn nhiều tạp chất sắt. Với điều kiện hình thành đặc biệt này, ruby Myanmar và Việt Nam có màu đỏ hoàn hảo, chất lượng hàng đầu thế giới. Hơn nữa, ruby được tìm thấy lẫn trong cẩm thạch có ánh đỏ huỳnh quang dưới ánh sáng tia cực tím, ánh sáng mặt trời. Hiệu ứng huỳnh quang sẽ làm cho bề mặt và màu sắc của viên đá đẹp hơn, qua đó làm tăng giá trị của viên đá.

Ngoài ra, đá ruby - hồng ngọc đôi khi cũng được tìm thấy ở các vùng đất bazan. Tuy nhiên, loại ruby này có lẫn nhiều tạp chất sắt, tạp chất sắt trong ruby làm màu sắc của chúng tối hơn và làm giảm hiệu ứng huỳnh quang trên bề mặt đá.




Đá Ruby đem đến một cảm xúc đầy đam mê, nóng bỏng và quyền lực. Nhẫn ruby tượng trưng cho một tình yêu đầy say đắm.

Thời xa xưa, các chiến binh đã găm những viên hồng ngọc dưới da và tin rằng chúng sẽ mang lại sự quả cảm cho họ trong trận chiến. Ruby còn được sử dụng như một loại bùa chú có tác dụng cảnh báo trước hiểm hoạ và tai ương, mang đến sức khoẻ tốt và sự bình an trong tâm hồn.
Đá hồng ngọc Ruby được cho là có khả năng ngăn ngừa các căn bệnh nặng và tạo cho cơ thể nguồn năng lượng. Người ta cho rằng Ruby chữa các bệnh về tim, não, làm tăng thêm sức mạnh và trí nhớ của con người. Người ta gán cho Ruby cả tác dụng giải độc. Những viên đá này dường như cứu người chủ của nó thoát khỏi các loại chất độc. Ruby có khả năng chữa các bệnh về máu, bệnh ở cột sống và khớp. Ngoài ra, còn nhận thấy khả năng của Ruby trong việc ngăn ngừa những cơn động kinh, có ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh. Loại đá này có khả năng chứa chứng trầm uất, điều trị bệnh mất ngủ và tâm thần phân liệt.

Hiệu ứng Ruby sao

Ruby sao

Khi soi đèn lên bề mặt viên đá Ruby sẽ thấy trên bề mặt đá hồng ngọc luôn có 3 tia sáng cắt nhau tại 1 điểm, tạo nên ngôi sao 6 cánh. Đây là đặc điểm thú vị và đặc sắc của đá Ruby. Cùng một chất lượng thì đá Ruby sao bao giờ giá cũng đắt hơn Ruby thịt.

Một số cách xử lý đá Ruby

- Đá Ruby xử lý nhiệt (Ruby đốt): Dùng nhiệt độ cao để đốt cháy tạp chất, tăng độ trong và màu sắc.

- Đá Ruby xử lý phủ thủy tinh (Ruby Phi, Ruby Thái): Nung Ruby cùng với thủy tinh, để thủy tinh len vào che lấp hết khe nứt, tăng độ bóng và màu sắc. Đối với Ruby xử lý nhiệt: Chẳng có cách nào cho người thường phân biệt, cách duy nhất là soi kính hiển vi, nhận biết nhờ tạp chất bị biến mất. Tuy nhiên việc phân biệt này cũng không quan trọng lắm, vì xử lý nhiệt rất bền, ít ảnh hưởng giá trị đá.
Ruby phủ thủy tinh có thể dễ dàng nhận biết bằng mắt thường. Lấy đèn pin điện thoại soi, nếu bên trong có bong bóng, các vết rạn không rõ nét, đá trong mờ thì đó là Ruby đã phủ thủy tinh. Cần lưu ý là Ruby phủ thủy tinh có giá rất rẻ so với Ruby sống và Ruby đốt có cùng chất lượng.

Đá Ruby

- Đá giả Ruby: Một số loại đá thường bị nhầm với Ruby như Garnet, Tourmaline đỏ, Spinel … Đây cũng là những loại đá tự nhiên khá quý hiếm, giá trị cao. Để nhận biết có thể làm kiểm định hoặc đơn giản nhất là dùng máy đo độ cứng để biết được đá ruby.

- Ruby nhuộm ở Việt Nam không phổ biến lắm. Loại này chủ yếu có ở Ấn Độ. Màu nhuộm trông rất tươi, giống màu đỏ cờ. Những khe nứt thường có màu đậm hơn những chỗ khác, do có màu nhuộm len vào. Khi lấy Axeton (thuốc tẩy sơn móng tay) quệt qua sẽ thấy màu nhuộm dính ra tay.

- Ruby nhân tạo: Hàng này trong vắt, đỏ đậm đẹp, không tỳ vết, nhìn cái là biết liền. Ruby tự nhiên nhìn chung không bao giờ đạt được chất lượng đó. Mà nếu có thì chắc giá cũng vô cùng cao khiến khó có người đủ tiền mua.

- Ruby giả: Có thể là thủy tinh, nhựa, thạch anh bắn màu … Loại này phân biệt tương tự Ruby nhân tạo. Hoặc dùng máy đo độ cứng là nhận biết ngay được.




Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018

Đá alexandrite, viên đá ma thuật đổi màu

Đá Alexandrite là một loại đá có khả năng đổi mầu

Đá Alexandrite mang dáng vẻ và màu sắc của ngọc lục bảo (emerald) dưới ánh sang mặt trời và hóa thân thành một viên ruby vào ban đêm. Giá trị của Alexandrite vượt xa những viên kim cương thông thường. Độ cứng của đá là 8,5 trên thang Mohs.

Đá Alexandrite là một loại đá thuộc nhóm đá chrysoberyl(khoáng vật nhôm beryl). Các loại đá thuộc họ chrysoberyl thường chỉ bao gồm sắt và titan, trong khi Alexandrite có thêm  phần lớn chrom tinh khiết, cũng chính là tác nhân gây ra sự đổi màu của loại đá này.



Whitney Alexandrite

Viên đá ma thuật alexandrite.

Dưới ánh sáng ban ngày đá alexandrite sẽ có màu xanh lá hoặc xanh lá có nhiễm xanh dương, tuy nhiên khi dưới ánh sáng nhân tạo nó sẽ đổi sang màu đỏ nhạt, đỏ hơi tía hoặc đỏ dâu. Khả năng đổi màu quang học, tính chat quý hiếm làm cho đá Alexandrite trở thành một trong những loại đá giá trị. Đá cũng có đặc tính “đa hướng sắc – pleochroic” ( màu sắc của chúng sẽ thay đổi tùy thuộc vào góc nhìn).

Đặc tính thay đổi màu sắc của đá Alexandrite được ví như những con tắc kè, chúng là viên đá xanh dịu dàng trong ánh sáng ban ngày, bỗng đỏ dịu trong môi trường ánh sáng nhẹ hoặc trong bóng tối. Rất nhạy cảm, chỉ cần một chút thay đổi ánh sáng, một chút góc nhìn cũng làm chúng tỏa ra sức hấp dẫn mà không ai có thể cưỡng lại.


Lịch sử của đá Alexandrite

Ghi nhận trong lịch sử ngành đá quý và khoáng vật học, chúng lần đầu tiên được tìm thấy ở ngọn núi Ural thuộc Liên Bang Nga vào đầu những năm 1830. Những viên đá đầu tiên có hiệu ứng tuyệt đẹp được dâng lên Nga hoàng cùng vào thời điểm Alexander đại đế II lên ngôi thừa kế, chúng sau đó được đặt tên theo tên của vị vua trẻ. Alexandrite được những người lính Nga mặc quân phục màu xanh đỏ gắn trên ngực và coi chúng như là biểu tượng của quân đội hoàng gia, là lá bùa hộ mệnh và thể hiện lòng trung thành với nhà vua.

Trong suốt một chặng đường dài làm điêu đứng giới nhà giàu trên thị trường đá quý thế giới, ngày nay chúng đã được tìm thấy ở một số quốc gia như Sri Lanka, Đông Phi và Brazil. Dẫu vậy, việc để có được một viên đá chất lượng vẫn là một điều vô cùng khó khăn.

Về lịch sử địa chất, Alexandrite bắt đầu xuất hiện khi môi trường đất đá bị biến dạng cách đây hàng triệu năm về trước, nhưng khác với các loại đá còn lại, quá trình biến đổi của nó cần những điều kiên địa lý và hóa học riêng biệt. Những nguyên tố beryllium(nguyên tố chiếm đa số trong chrysoberyl ) và chromium(nguyên tố gây đổi màu trong alexandrite) là hai nguyên tố có tính chất trái ngược nhau và rất khó để hợp thành, thường được thấy riêng rẽ trong từng loại đá, tuy nhiên trong những điều kiện đặt biệt gây ra bởi mẹ thiên nhiên hai nguyên tố trên đã kết hợp lại, và cũng trong những điều kiện này sự kết hợp đó lại thiếu đi nguyên tố silica(nguyên tố phổ biến thứ hai trên bề mặt trái đất) cần thiết để hình thành Ngọc lục bảo, vì vậy mà Alenxandrite ra đời.

Giá trị của đá Alexandrite

Alexandrite có tính đổi màu càng nhiều thì giá càng cao. Một viên đá Alexandrite chất lượng có màu xanh lá sặc sỡ pha một ít xanh dương dưới ánh sáng ban ngày, còn khi đặt dưới ánh sáng nhân tạo, nó sẽ có màu đỏ pha chút tía và không hề dính một tí nâu hay xám; giá trị sẽ tăng lên gấp bội nếu nguồn gốc của viên đá xuất xứ từ Nga. Viên Alexandrite chất lương tốt trên 1ct, thuộc loại những viên đá quý đắt nhất trên thế giới, và hiếm hơn nhiều so với Ruby, Saphire hoặc Emerald chất lượng.

Hầu hết các viên đá Alexandrite đều khá nhỏ, dưới một carat. Với những viên từ một carat trở lên, giá thành của chúng dao động từ 50.000 đến 1.000.000 USD/carat ( từ 1 - 21 tỷ VND).
 


Alexandrite Ring
 
Alexandrite có vẻ đẹp lạ thường, giá trị của nó rất khó nhận ra khi nhìn thấy lần đầu tiên. Viên đá sẽ đổi màu khi quan sát dưới nhiều nguồn sáng khác nhau, người đam mê đá chắc chắn bị mê hoặc bởi sự kỳ diệu như ma thuật này. Alexandrite còn được xem như biểu tượng của điềm lành, trong những tình huống xấu, nó sẽ giúp bạn tăng cường trực giác của mình, hỗ trợ tìm ra con đường chính xác để giải quyết khó khăn, ngoài ra nó còn giúp bạn trở nên năng động, truyền cảm hứng để trí tưởng tượng của bạn bay xa hơn.

 

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Kim cương - diamond, nữ hoàng đá quý

Kim cương có thành phần cấu tạo từ nguyên tử các bon.

Kim cương được hình thành trong lòng đất tại độ sâu 150km, nhiệt độ và áp suất sẽ giúp cacbon hóa thành kim cương. Theo sự  đứt gẫy địa tầng và phun trào núi lửa mà kim cương có mặt trên bề mặt địa tầng trái đất. Ngoài ra kim cương còn có thể được hình thành trong những hiện tượng có áp suất và nhiệt độ cao khác. Người ta có tìm thấy trong tâm thiên thạch những tinh thể kim cương có kích thước cực kì nhỏ sau khi chúng rơi xuống đất tạo nên một vùng có áp suất và nhiệt độ cao để phản ứng tạo kim cương xảy ra. Những hạt bụi kim cương được dùng trong khoa học hiện đại để xác định những nơi đã có thiên thạch rơi xuống.

Hiện nay, kim cương được khai thác nhiều nhất là ở tại Trung Phi và Nam Phi, với 49% lượng khai thác toàn cầu. Mỗi viên kim cương giá trị khi được phát hiện và chế tác đều có tên tuổi, lai lịch xuất xứ đàng hoàng. Lịch sử  tồn tại và qua bao bao thăng trầm cũng luôn được lưu lại.

Kim cương là vật chất tự nhiên có độ cứng lớn nhất và được lấy chuẩn trong thang đo Mohs, với độ cứng là 10. Tuy vậy độ giòn của kim cương không được tốt. Nếu lấy búa đập thì kim cương cũng có thể nát vụn. Kim cương cũng có thể cháy tại nhiệt độ 800 độ C và đủ khí O2 và truyền nhiệt rất tốt.

Màu sắc của kim cương

Kim cương có rất nhiều màu sắc: không màu, xanh dương, xanh lá cây, cam, đỏ, tía, hồng, vàng, nâu và cả đen.Những viên kim cương có những vệt màu sáng được gọi là những viên kim cương màu. Nếu viên kim cương có màu rất đậm, chúng sẽ được gọi là "có màu sắc rực rỡ". Kim cương có màu là loại kim cương chứa một lượng nhỏ tạp chất, do trong cấu trúc của nó, một nguyên tử cacbon bất kỳ trong mạng tinh thể bị thay thế bởi một nguyên tử của nguyên tố khác.

Nguyên tố Nitơ có trong cấu trúc phân tử sẽ khiến kim cương có mầu vàng

Graff Vivid Yellow

Kim cương xanh dương khi có nguyên tố Boron.
Kim cương xanh có thể biểu diễn nhiều tông màu khác nhau, từ những gam màu nhạt của bầu trời bình minh đến xanh da trời hoặc xanh nước biển sâu. Mầu sắc đậm nhạt sẽ phụ thuộc vào số lượng nguyên tố Bo trong viên kim cương.


Argyle violet

Kim cương xanh lá cây

Green Diamond

Kim cương không mầu, kim cương nguyên chất


Kim cương đỏ ( kim cương máu)
Kim cương đỏ là loại kim cương quý hiếm nhất trong gia đình kim cương với chỉ chưa đến 20 viên được biết đến cho đến ngày nay. Ngoài một số viên có màu đỏ tía hoặc đỏ pha trộn với các màu sắc khác, một viên kim cương màu đỏ tinh khiết là cực kì hiếm. Theo ước tính, cứ 1 triệu carat kim cương tự nhiên mới có có 1 carat màu hồng hay màu đỏ.

Kim cương đỏ được hình thành do quá trình "biến dạng dẻo" làm thay đổi cấu trúc phân tử xảy ra trong mỗi viên kim cương. Độ cứng của kim cương đỏ lớn hơn nhiều lần so với kim cương trắng thông thường.

Moussaieff Red

Kim cương hồng


Kim cương màu hồng và màu nâu ám khói liên quan với các sai hỏng tại các mặt trượt do biến dạng dẻo sau kết tinh. Các sai lệch xuất hiện ở các mặt trượt gây nên sự hấp thụ ánh sáng và tạo nên màu.

Steinmetz Pink
Kim cương đen
Kim cương đen là gì còn được biết đến dưới tên khoa học là Carbonado, là một dạng thù hình cứng nhất và không tinh khiết của kim cương đa tinh thể bao gồm kim cương, than chì và carbon vô định hình. Cấu tạo đặc biệt này khiến cho kim cương đen tự nhiên có màu mờ đục, bề mặt rỗ, xốp và có rất nhiều các tạp chất bên trong. Cũng bởi vì vậy mà loại kim cương này rất khó để chế tác và đánh bóng.

Kim cương đen sau khi chế tác vẫn chứa rất nhiều khiếm khuyết trên bề mặt cũng như những tạp chất lẫn bên trong, làm cho nó có màu đen mờ đục và hầu như ánh sáng không xuyên qua được. Do vậy, người ta đã tạo ra loại kim cương đen trong suốt và có bề mặt sáng bóng hơn bằng cách xử lý chiếu xạ. Nói đến giá trị thì kim cương đen là loại kim cương rẻ tiền nhất.
Kim cương đen

Kim cương màu cam


Pumpkin Diamond


Phương pháp để phân loại kim cương

Phân loại kim cương dựa vào 4 đặc tính, còn nổi tiếng với tên 4C: carat (khối lượng), color (màu sắc), clarity (độ trong) và cut (cách cắt).

1. Carat Carat là đơn vị dùng để đo khối lượng của đá quý nói chung. Một carat được định nghĩa là 200 milligram. Một điểm, bằng 1% carat hay 2 mg, được dùng để đánh giá các viên kim cương có khối lượng dưới 1 carat. Giá của viên kim cương tăng nhanh khi khối lượng tăng.

2. Độ trong Độ trong được đánh giá dựa vào kết quả khi nhìn dưới kính lúp 10 lần số lượng các vết trầy xước, màu sắc của những vết gãy, vị trí của chúng, tất cả đều được dùng để đánh giá kim cương. Khi độ trong nâng cao lên khi số kim cương đạt được tiêu chuẩn đó thấp hơn. Chỉ có 20% kim cương có thể đủ để làm đồ trang sức, 80% cho công nghiệp, trong đó có 20% kim cương có những vết trầy thấy rõ bằng mắt thường. Những người mua bình thường rất khó có thể nhìn thấy những vết như thế này. Những vết xước không ảnh hưởng nhiều đến tính chất tinh thể của viên kim cương. Tuy nhiên, những vết mờ có thể làm giảm sự tán sắc ánh sáng. Vết nứt lớn có thể làm cho kim cương vỡ. Kim cương có thể được đánh giá là không có khuyết điểm nào cho đến không hoàn hảo.


Sự tán sắc ánh sáng của kim cương
3. Màu sắc Một cấu trúc tinh thể nguyên chất sẽ làm cho viên kim cương không màu. Tuy nhiên, hầu hết những viên kim cương đều không hoàn hảo. Tùy theo màu sắc có thể tăng hay giảm giá trị của viên đá. Những đốm nhỏ màu vàng sẽ làm giảm giá trị kim cương đi rất nhiều trong khi màu hồng hay xanh dương sẽ làm tăng giá trị của viên kim cương.

Tạp chất thường gặp nhất trong kim cương là nitơ, một phần nhỏ nitơ trong tinh thể kim cương làm cho kim cương có màu vàng thậm chí màu nâu. Trong tiêu chuẩn GIA thì viên kim cương không màu là "D" và vàng là "Z". Đôi khi người ta còn sử dụng các phương pháp quang học phức tạp để xác định màu. Những viên kim cương có điểm màu thật thấp hay thật cao rất hiếm, và cũng rất đắt tiền. Từ D-G là những viên không màu, từ H-J là gần như không màu, K-M là hơi có màu, N-Y là màu vàng nhạt hay nâu. Tuy nhiên, viên kim cương có màu vàng nhạt Z rất hiếm có và có giá trị rất cao. Trái với màu vàng và màu nâu, những màu khác khó tìm thấy hơn và có giá trị hơn. Chỉ cần viên kim cương hơi hồng hay xanh lam thì giá trị đã rất cao rồi. Tùy theo mạng tinh thể cacbon bị thay thể bằng nguyên tố nào mà kim cương sẽ có màu đó. Những màu thường gặp là vàng, hồng, xanh dương, xanh lá cây, đỏ, nâu...

4. Cách cắt Kĩ thuật cắt kim cương vừa là một môn khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó miêu tả quá trình viên kim cương được thành hình và đánh bóng từ dạng viên đá đầu tiên đến một viên ngọc sáng ngời. Có rất nhiều công trình nghiên cứu toán học được nghiên cứu nhằm làm cho lượng ánh sáng mà nó phản xạ được là nhiều nhất. Một trong số đó là công trình của nhà toán học yêu thích khoáng vật Marcel Tolkowsky. Ông là người nghĩ ra cách cắt hình tròn và đã đề ra các tỉ lệ thích hợp cho nó. Một viên kim cương được cắt theo kiểu hình tròn hiện đại trên bề mặt có tất cả 57 mặt. Trong đó, phần trên có 33 mặt và phần dưới có 24 mặt. Phần trên có nhiệm vụ tán xạ ánh sáng thành nhiều mằu sắc khác nhau trong khi phần bên có nhiệm vụ phản xạ ánh sáng.

De Beers Centenary Diamond 100 triệu USD

Ý nghĩa của kim cương

Từ cổ xưa, kim cương đã là đá quý đại diện cho cung Bạch dương, ngự trị phần lịch đầu tháng 4 theo cung hoàng đạo. Tên gọi Diamond – kim cương được đặt theo từ “adamas” trong tiếng Hy lạp với nghĩa “không thể thất bại”.

Đối với đường công danh sự nghiệp, kim cương được cho là làm cho công việc có nhiều triển vọng tốt, xây dựng được mối quan hệ chan hòa với bạn bè, đồng nghiệp, việc kinh doanh thuận buồm xuôi gió và có nhiều tài lộc. Ngoài ra về mặt tình cảm, kim cương cũng là viên đá kỉ niệm 10 năm và 60 năm ngày cưới của các cặp vợ chồng.

Kim cương càng quý thì càng ít được làm đồ trang sức, đó là một khối tài sản có giá trị về mặt tích lũy.

Kim cương thể hiện sự giầu sang uy quyền tột bậc, đó là sự phô trương sự sang trọng một cách lộng lẫy.  Một viên kim cương quý giá gây ra lòng tham dễ hơn so với khơi dậy niềm đam mê cái đẹp. Kim cương có trong nó sự đam mê tích tụ của cả thế giới, một sức hút đến mê muội. Sự si mê tồn tại và kế thừa trong kim cương từ đời này sang đời khác. 

Kim cương lấp lánh nhưng không tạo ra nền tảng tình cảm. Vẻ đẹp, sự quý hiếm, giá trị cao biến kim cương là nơi lưu trữ sự tham lam thèm khát. Nói về tính chất phong thủy và từ tác dụng tốt của kim cương thì vô hình chung kim cương đã bị giá trị vật chất lấn át hoàn toàn vì giá trị cái đẹp của kim cương.

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

Đá sapphire - viên đá của tình yêu và sự chung thủy

Sapphire theo tiếng Hy lạp, saphiarus có nghĩa là màu xanh lam.

Tuy nhiên đá Sapphire không chỉ có mầu xanh lam mà đá có rất nhiều mầu sắc đa dạng. Đá Sapphire có chung công thức hóa học Al2O3 giống như đá Ruby. Đá Sapphire bao gồm tất cả các mầu từ nhóm Corundum Al2O3 ngoại trừ mầu đỏ với tên gọi là đá Ruby.

Sapphire và Ruby có độ cứng là 9, chỉ kém so với độ cứng 10 của kim cương. Đá Sapphire có vẻ đẹp tinh tế, sang trọng, toả sáng lấp lánh. Khi viên đá Sapphire đạt độ trong suốt và sạch hoàn hảo sẽ được xếp vào hàng đá quý cao cấp gần như kim cương.


Màu sắc của đá Sapphire

Màu sắc đá sapphire còn phụ thuộc vào hàm lượng sắt và crôm bên trong đá. Đá Sapphire có đa dạng về màu sắc, chẳng hạn như: màu vàng, hồng, da cam, xanh hero, xanh thiên thanh, xanh cổ vịt, xanh dầu gió, xanh chuối, đen, trắng.



Pink Saphire


Đá Sapphire loại đẹp nhất và giá trị nhất là màu xanh dương đậm ( mầu xanh hero - lam ngọc ). Lam ngọc càng trong trẻo và có độ phản chiếu ánh sáng của các giác mài càng cao thì viên đá đó càng đắt tiền. Nhất là khi trọng lượng của viên đá càng nhiều carats thì càng đắt.


Đá Sapphire sao

Sapphire sao là loại sapphire mà khi được chiếu sáng sẽ hiện ra hình ảnh ngôi sao sáu cánh. Sapphire sao khá là hiếm trên thế giới và giá trị của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lượng, màu sắc, hình dáng và độ lấp lánh của ngôi sao ẩn chứa trong đó.

Lam ngọc với hiệu ứng ngôi sao 6 cánh
Saphire sao đen đặc biệt hiệu ứng ngôi sao 12 cánh

Các tính chất của đá Sapphire

Sapphire đổi màu là loại có thể thay đổi được màu sắc khi được ánh sáng chiếu vào. Thông thường dưới ánh sáng tự nhiên thì những viên đá này mang màu xanh da trời, nhưng dưới ánh đèn huỳnh quang thì chúng chuyển sang tông màu tím. Thậm chí có cả loại  Sapphire mang sắc hồng đặc trưng nhưng khi chiếu dưới ánh đèn chúng lại biến thành xanh. Người ta tìm thấy Sapphire đổi màu nhiều nhất là ở Tanzania, châu Phi.

Sapphire Padparadsha là loại đá mang màu sắc được pha giữa hai gam hồng và da cam. Loại đá này rất là hiếm và chúng cũng được đánh giá cao. Đa phần Sapphire Padparadsha được tìm thấy ở Sri Lanka, một phần thì ở châu Phi và Việt Nam.

Sapphire hai màu: Chúng rất quý giá với số lượng ít. Màu sắc thường hay gặp nhất chính là Sapphire màu vàng chuyển sang xanh lá hoặc là chuyển sang xanh chuối hoặc tím. Nếu sự khác biệt màu càng lớn thì mức giá của chúng càng cao.

Sapphire mắt mèo: là loại Sapphire có thể tạo ra hiệu ứng giống như là đồng tử của loài mèo khi ở dưới ánh sáng.

Yellow Saphire

Công dụng của đá Sapphire 

Đá Sapphire được sử dụng để làm trang sức giá trị cao để tôn lên vẻ đẹp sang trọng quý phái. Đây là viên đá của hòa bình và sự may mắn.

Đá sapphire là biểu tượng của tình yêu, sự chung thủy, hôn nhân bền vững và sự giầu có. Sapphire đặc biệt quan trọng được kỷ niệm cho 45 năm ngày cưới.

Bên cạnh đó, Sapphire được cho là biểu tượng của sự thông thái, quyền lực và sự công bằng. Đá sapphire làm con người bình tĩnh và sáng suốt hơn.

Sapphire được coi là viên đá của nữ tu. Với hàm ý sự trinh tiết và thanh khiết.
Orange Saphire

Các các xử lý đá Sapphire

Hiện nay trên thị trường thì hơn 95% ruby và saphia đều đã qua xử lý nhiệt phân hủy các bao thể chứa titan tạo độ sạch trong. Sapphire được làm nóng ở nhiệt độ rất cao; thường giữa 1650 và 1850 độ C. Nhiệt độ cao làm cho các sợi rutil trong sapphire hòa tan, làm tăng sự trong suốt của viên đá và độ bão hòa màu (thông qua việc khuếch tán titan vào lưới mạng tinh thể của sapphire).

Đá Sapphire tối màu cũng được làm sáng màu nhờ nung nhiệt. Phương pháp này được thị trường chấp nhận coi như là ruby, saphia tự nhiên. Khi xử lý nhiệt, đá sẽ loại bỏ được những tạp chất, thuần khiết mầu và đẹp hơn. Các chuyên gia ngọc học có kinh nghiệm có thể xác định rằng một viên sapphire đã được xử lý nhiệt bằng cách quan sát cấu trúc dưới kính hiển vi.


Phương pháp xử lý mới phát triển hiện nay là xử lý khuếch tán beryl, trong đó các đá sapphire không màu, hồng nhạt hay màu vàng được nung nhiệt chung với khoáng beryl hay chrysoberyl, nguyên tố berylium từ các khoáng ấy sẽ thẩm thấu vào bề mặt đá Sapphire. Điều này giúp làm tăng màu vàng cho đá: Sapphire màu hồng sẽ thành cam, vàng nhạt thành vàng đậm. Nguyên tố thêm vào và màu do nó tạo ra chỉ ở một lớp mỏng trên bề mặt đá, tuy nhiên trong một số trường hợp, nó giúp tạo nên màu đậm hơn trên toàn bộ viên đá. Xử lý khuếch tán phải được công bố trên hóa đơn. Để xác định được xử lý này cần phải có các phòng xét nghiệm ngọc học hiện đại như GIA.

Tốt nhất để chắc chắn là đá Sapphire thiên nhiên, thì khi mua nên yêu cầu bên bán phải có chứng nhận kiểm định đá quý của của các đơn vị uy tín như PNJ, SJC, DOJI,... Với mỗi viên đá khi kiểm định sẽ có một mã số duy nhất có thể tra cứu online trên website của đơn vị kiểm định.



Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

Ngọc Lục Bảo Emerald - bích ngọc

Ngọc lục bảo Emerald hay bích ngọc là một loại đá đặc biệt quý hiếm

Ngọc lục bảo là một loại khoáng vật của berin có công thức hóa học là Be3Al2(SiO3)6. Độ cứng của ngọc lục bảo là 7,5-8 trong thang Mohs. Ngọc lục bảo Emerald có mầu xanh lục, màu xanh của ngọc lục bảo xuất phát từ hàm lượng nhỏ crôm và đôi khi cả vanađi.

Trong đá tự nhiên, gần 99% ngọc lục bảo có tạp chất có thể quan sát bằng mắt thường hoặc kính lúp, kính phóng đại của chuyên gia về đá quý. Giá trị của mỗi viên bích ngọc phụ thuộc lớn vào khối lượng và độ tinh khiết của nó.


Nhẫn ngọc lục bảo khắc tiếng phạn


Thời cổ đại Ngọc Lục Bảo emerald từng được dùng làm tiền tệ của Babylon. Ở Ai Cập cổ đại, người ta đã khai thác các quặng mỏ ngọc lục bảo ở gần Biển Đỏ từ hơn 2000 năm trước Công nguyên để làm đồ trang sức. 

Ngọc lục bảo Emerald châu phi

Mầu sắc ngọc lục bảo Emerald

Ngọc Lục Bảo Emerad giá trị nhất khi có màu lục mạnh sáng của cỏ mùa xuân sau cơn mưa. Trong các mỏ ngọc lục bảo được khai thác, ngọc lục bảo Colombia được ưa chuộng nhất thế giới vì có mầu xanh lá cây tinh khiết. Với những viên màu đẹp nhỏ hơn 5 carat thì emerald có thể sẽ cao giá hơn ruby hay saphia. Emerald ở Columbia đã được xem là chuẩn mực bao thế kỷ nay cho loại màu lục thuần khiết, thường được ưa chuộng hơn hẳn màu lục hơi xanh sẫm của emerald tại Phi châu.


Ngọc lục bảo


Ngọc lục bảo có màu sắc rất ổn định dưới tác dụng của ánh sáng và nhiệt, chỉ biến đổi nhiệt độ 700 - 8000C. Màu được ưa chuộng nhất là màu lục thắm, còn màu lục nhạt, vàng lục, lục tối ít chuộng hơn. Màu sắc trong viên đá thường phân bố không đều, mà tạo thành các sọc hoặc đám màu.

Ngọc lục bảo phát quang màu đỏ và dưới kính lọc Chelsea cũng cho màu đỏ. Trong ngọc cũng thường xuyên có mặt có nguyên tố sắt (Fe) trong emơrôt và làm giảm sự phát quang của đá.


Ngọc lục bảo tự nhiên có chứa các bao thể lỏng với các bọt khí, trong khi các loại đá tổng hợp nhân tạo thì không có. Đây cùng là một tiêu chí để phân biệt ngọc lục bảo thật giả.

Ngọc lục bảo emerald không tạp chất thường hiếm cho nên người ta chấp nhận emerald có một số tạp chất nhất định và chúng không làm giảm giá trị viên đá. Tuy nhiên khi mua, những viên nào có khe nứt hay tạp chất phân bố quá sâu vào bên trong viên đá, vì chúng sẽ làm cho viên đá yếu đi và dễ bị nứt, bể khi vô tình va chạm mạnh.




Một trong những viên đá Emerald nổi tiếng thế giới là Mogul Emerald được tìm thấy vào năm 1695 ở Ấn Độ. Viên ngọc này nặng 217,80 cara và cao vào khoảng 10 cm. Một mặt của nó được khắc các bài kinh cầu nguyện, mặt còn lại được khắc họa tiết hình hoa trang trí. Viên ngọc đã trở thành truyền thuyết và được một người giấu tên mua với giá 2,2 triệu USD vào ngày 28 tháng 9 năm 2001 tại Anh trong một cuộc bán đấu giá của Christie.

Mogul Emerald

Tiêu chuẩn đánh giá ngọc lục bảo

Tương tự như các tiêu chuẩn đánh giá các loại đá quý khác như kim cương, đá ruby thì Emerald cũng áp dụng tiêu chuẩn 4C của GIA (Hội Ngọc học Mỹ) về: Màu sắc, độ tinh khiết, kỹ thuật cắt và trọng lượng tương tự như kim cương. Những viên hội tụ cả 4 tiêu chí sẽ được đánh giá chất lượng tốt và có giá trị cao.


Colombia Emerald

Ý nghĩa của Ngọc lục bảo Emerald

Ngọc lục bảo là biểu tượng của sự phát triển, sinh sôi, của tình yêu chung thủy, tính nhẫn nại, liều thuốc quý giúp tăng sinh lực, tính sáng tạo, điều hoà nhịp tim và sự tuần hoàn máu. Viên đá này giúp mài sắc trí tuệ và thị lực cho những ai đeo nó.




Ngọc lục bảo Emerald còn được coi là một báu vật giúp phát triển trí thông minh, tài hùng biện. Đi đường dài, chúng giúp bảo vệ chủ nhân khỏi hiểm hoạ. Người mang viên ngọc xanh còn có thể dự đoán được tương lai.

Ngọc lục bảo là lá bùa hộ mệnh cho những ai mệnh Mộc, mệnh Hỏa; những người có ngày sinh nằm trong cung Bảo Bình (21/1-19/2), Song Ngư (20/2-20/3), Kim Ngưu (21/4-21/5).